ĐẢNG - ĐOÀN THỂ
CÁC PHÒNG NGHIỆP VỤ
VKSND HUYỆN, T.XÃ, TP
ẢNH TƯ LIỆU
THÔNG TIN NỘI BỘ
TRAO ĐỔI NGHIỆP VỤ
GÓP Ý HIẾN PHÁP
CẢI CÁCH CÔNG VỤ, CC
TÂM SỰ & SUY NGẪM
Banner KSV cần biết
Hướng dẫn sử dụng mail
Hộp thư nội bộ
Công nghệ thông tin
Banner Công Báo
Quy chế phối hợp VKS - VIETTEL
 
 
Trang chủ arrow Tin tức – Sự kiện
Một số kinh nghiệm trong xử lý án lừa đảo ...
17/01/2012

Trong thời gian qua tình hình vi phạm và tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản diễn biến phức tạp, gia tăng cả về số vụ, việc cả về hậu quả, với thủ đoạn ngày càng tinh vi với những  thủ đoạn phạm tội diễn ra phổ biến đó là: Lợi dụng mối quan hệ quen biết với bị hại để mượn tài sản của người bị hại sau đó đem đi bán, cầm cố thế chấp lấy tiền tiêu xài, thuê xe ô tô của người bị hại rồi đem đi cầm cố thế chấp, lợi dụng việc ham lợi lãi suất cao của bị hại, đối tượng phạm tội vay tiền của bị hại với lãi suất cao lúc đầu trả lãi sòng phẳng để tạo lòng tin sau đó vay tiền nhiều lần với số lượng lớn rồi chiếm đoạt luôn. Đối tượng phạm tội đã bị thua lỗ mất khả năng thanh toán nhưng vẫn dùng thủ đoạn gian dối vay mượn tiền, tài sản của nhiều người để trả nợ trước đó, vay của người này trả cho người khác, sau đó tuyên bố vỡ nợ....
Một số kinh nghiệm trong xử lý án lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

I/ Thực trạng vi phạm và tội phạm lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Trong thời gian qua tình hình vi phạm và tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản diễn biến phức tạp, gia tăng cả về số vụ, việc cả về hậu quả, với thủ đoạn ngày càng tinh vi, một số thủ đoạn phạm tội diễn ra phổ biến đó là:

- Lợi dụng mối quan hệ quen biết với bị hại để mượn tài sản của người bị hại sau đó đem đi bán, cầm cố thế chấp lấy tiền tiêu xài.

- Thuê xe ô tô của người bị hại rồi đem đi cầm cố thế chấp

- Lợi dụng việc ham lợi lãi suất cao của bị hại, đối tượng phạm tội vay tiền của bị hại với lãi suất cao lúc đầu trả lãi sòng phẳng để tạo lòng tin sau đó vay tiền nhiều lần với số lượng lớn rồi chiếm đoạt luôn.

- Đối tượng phạm tội đã bị thua lỗ mất khả năng thanh toán nhưng vẫn dùng thủ đoạn gian dối vay mượn tiền, tài sản của nhiều người để trả nợ trước đó, vay của người này trả cho người khác, sau đó tuyên bố vỡ nợ.

- Vay mượn tiền tài sản của nhiều người để kinh doanh, nhưng do làm ăn bị thua lỗ, đến thời hạn trả nợ không trả được nợ nên bỏ trốn nhằm trốn tránh nghĩa vụ thanh toán nợ.

- Vay mượn tiền tài sản của nhiều người để mua sắm tài sản nhưng để cho người thân đứng tên, sau đó tuyên bố vỡ nợ nhằm chiếm đoạt số tiền tài sản đã vay.

- Vay mượn tiền tài sản của nhiều người sử dụng vào việc đánh bạc dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản

- Vay mượn tiền, tài sản của nhiều người để tiêu xài, đến thời hạn trả nợ không có khả năng trả nên nhờ người khác nhận nợ khống để giải trình việc sử dụng số tiền vay, nhằm trốn tránh trách nhiệm trả nợ.

- Lợi dụng mối quan hệ quen biết với cán bộ ngân hàng, đối tượng phạm tội đứng ra làm thủ tục vay Ngân hàng, hoặc đáo hạn ngân hàng cho người bị hại, rồi xin vay ké trong hợp đồng tín dụng, hoặc giả chữ ký của người vay để vay tiền ngân hàng rồi chiếm đoạt luôn.

- Lập dự án xin thuê đất, giao đất trong khi chưa được giao đất thì dùng thủ đoạn gian nói dối người bị hại là đất đã được giao để người bị hại tin tưởng giao tiền cho đối tượng phạm tội  để mua đất nhưng khi lấy được tiền thì chiếm đoạt luôn.

- Nói dối người bị hại là có quan hệ quen biết rộng có khả năng xin được việc làm hoặc xin vào học ở các trường đại học để nhận tiền của người bị hại sau đó chiếm đoạt sử dụng cá nhân.

Nguyên nhân của việc tăng mạnh hành vi vi phạm và tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đó là: Trong những năm qua suy thoái kinh tế, khủng hoảng tài chính quốc tế ảnh hưởng đến nền kinh tế của nước ta, để kiềm chế lạm phát nhà nước thắt chặt tín dụng cho vay nên nhiều đối tượng kinh doanh bị thua lỗ mất khả năng thanh toán nhưng không tuyên bố phá sản, mà vẫn dùng thủ đoạn gian dối vay tiền, nhận tài sản  của những người bị hại để trả nợ và trả lãi, lấy của người này trả cho người khác đến lúc số tiền vay tăng cao không có khả năng thanh toán thì bỏ trốn để trốn tránh trách nhiệm trả nợ; Xuất phát từ lòng tham, muốn có tiền tiêu xài nên một số đối tượng lợi dụng sự thiếu hiểu biết pháp luật, lòng tham muốn lãi suất cho vay cao của nhiều người bị hại để huy động vốn vay của nhiều người với lãi suất cao gấp nhiều lần lãi suất vay ngân hàng rồi sau đó chiếm đoạt bỏ trốn hoặc tẩu tán tài sản cho người thân thiết; Quy định của pháp luật hình sự nhất là về tội lạm dụng tín nhiềm chiếm đoạt tài sản còn có nhiều sơ hở nên các đối tượng lợi dụng vào đó để thực hiện hành vi phạm tội, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng xử lý đối với hành vi phạm tội, việc xử lý đối với các hành vi phạm tội xâm phạm quyền sở hữu nhất là tội lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm CĐTS chưa kịp thời, việc tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân còn nhiều hạn chế; Việc quản lý, bảo vệ tài sản của nhiều doanh nghiệp, đơn vị còn lỏng lẻo chưa thật sự chặt chẽ nên bị kẻ xấu lợi dụng lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Việc điều ra, xác minh, khởi tố, truy tố, xét xử đối với các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhất là những vụ án đặc biệt nghiêm trọng thường kéo dài, tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với loại tội này chiếm tỷ lệ cao, cá biệt do không xác minh kỹ trước khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can nên có vụ sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can phải đình chỉ điều tra. Nguyên nhân là do tính chất phức tạp của loại tội phạm này như: Không có giải thích hướng dẫn cụ thể thế nào là bỏ trốn để CĐTS, thế nào là gian dối để CĐTS ? thế nào là sử dụng vào mục đích bất hợp pháp? Vì vậy việc đánh giá nhận định tùy thuộc vào ý thức chủ quan của người tiến hành tố tụng.Việc thu thập, đánh giá chứng cứ gặp nhiều khó khăn vì liên quan đến nhiều người, nhiều lĩnh vực, lời khai của người bị hại trước sau không thống nhất, bị can luôn tìm mọi thủ đoạn để chối tội nhưng quan trọng nhất vẫn là trách nhiệm của KSV trong việc kiểm sát đối với vụ án.

II/ Cơ sở lý luận và thực tiễn xác định hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự.

Tại Điều 139 BLHS quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá tị từ hai triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Tại Điều 140 BLHS quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiệm đoạt tài sản:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 4 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới bốn  triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm.

a, Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b, Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Do vậy trong quá trình điều tra xác minh tin báo tố giác tội phạm, khởi tố vụ án, khởi tố bị can VKS phải yêu cầu Cơ quan điều tra thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ chứng minh những vấn đề theo quy định tại Điều 63 BLTTHS, các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó cần chú trọng đến hành vi khách quan của tội phạm, cụ thể:

- Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: phải chứng minh được hành vi gian dối trước hoặc liền ngay khi nhận tài sản cụ thể như thế nào? Hành vi gian dối đó có phải là nguyên nhân trực tiếp của việc chiếm đoạt tài sản hay không? Người thực hiện hành vi gian dối có nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản hay không?

Trong trường hợp người thực hiện  hành vi gian dối chỉ nhằm mục đích sử dụng, khai thác lợi ích của tài sản đã nhận được, không có mục đích chiếm đoạt số tài sản đã nhận thì không thể sử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Điển hình như:

Vụ Vân Thành Huy giám công ty cổ phần đầu tư XNK Đăklăk cùng với một số cán bộ  trong công ty có lập hồ sơ nhập khống 2000 tấn cà phê thế chấp vay 14 tỷ đồng của Ngân hàng Ngoại thương về nhập quỹ công ty để kinh doanh, sau đó đã trả đủ tiền cho ngân hàng. Xét thấy Vân Thành Huy có hành vi gian dối để ngân hàng cho vay nhưng không có mục đích chiếm đoạt tài sản nên không có căn cứ khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Hay như vụ Nguyễn Lưu Minh Khôi làm giả giấy phép đăng ký kinh doanh của công ty tiến Thành, mạo danh là giám đốc công ty Tiến Thành để ký kết hợp đồng dịch vụ với công ty TNHH Đại Vĩnh Phát với tổng giá trị hợp đồng là 24 tỷ đồng, đã nhận trước số tiền 12,5 tỷ đồng của Công ty TNHH Đại Vĩnh Phát, Khôi có tiến hành triển khai thực hiện các nội dung trong hợp đồng đã ký kết nhưng vì nhiều lý do quá trình thực hiện hợp đồng bị chậm trễ, Công ty Đại Vĩnh Phát đã gia hạn hợp đồng cho Khôi nhưng quá thời gian gia hạn Khôi vẫn chưa thực hiện xong nội dung của hợp đồng,  bị Công ty Đại Vĩnh Phát thúc giục việc thực hiện hợp đồng, nên Khôi tiến hành làm giả 2 văn bản cùng số 716/UBND-NLN cùng ngày 27/4/2009 (do ông Lữ Ngọc Cư - Chủ tịch UBND tỉnh ký) với nội dung văn bản là: Ủy ban nhân dân tỉnh ĐăkLăk đồng ý chủ trương cho Công ty TNHH Đại Vĩnh Phát lập dự án đầu tư khu công nghiệp tại tiểu khu 2,3 thuộc xã EaHleo, huyện EaHleo và 67 ha đất thuộc quỹ đất của Lâm trường Chư Phả, tổng diện tích là 316 ha. Do nghi ngờ văn bản của UBND tỉnh ĐăkLăk là giả mạo nên Công ty đại Vĩnh Phát  đã làm đơn tố cáo Khôi gửi đến cơ quan chức năng.

Xét thấy  việc  gian dối nêu trên của Khôi là nhằm ký được hợp đồng và kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng chứ không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản đã nhận, sau khi ký hợp đồng dịch vụ với công ty TNHH Đại Vĩnh Phát, Khôi có tiến hành thực hiện các nội dung trong hợp đồng. Do vậy không có cơ sở xác định Khôi lừa đảo chiếm đoạt tiền của công ty Đại Vĩnh phát, nên Cơ quan điều tra và VKS không xử lý đối với Khôi về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Hiện vụ án này đã xét xử sơ thẩm xong, HĐXX  nhất trí với quan điểm xử lý của VKS.

- Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải chứng minh được:

 Hành vi gian dối sau khi nhận tài sản cụ thể như thế nào? Hành vi gian dối đó có phải là nguyên nhân trực tiếp của việc chiếm đoạt tài sản hay không? Người thực hiện hành vi gian dối đó có nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản hay không? Có việc bỏ trốn hay không? Việc bỏ trốn đó có phải là nhằm để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hay không?  Có việc sử dụng tài sản nhận được vào mục đích bất hợp pháp hay không, việc bất hợp pháp đó là việc gì? Và việc sử dụng vào mục đích bất hợp pháp đó có dẫn đến việc không có khả năng trả lại tài sản hay không?

Trong trường hợp người bị tố cáo có hành vi gian dối, có việc bỏ trốn nhưng không phải nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì không thể xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS

VD: Nguyễn Thị B vay mượn tiền của nhiều người sau đó cho người khác vay lại, đến thời hạn thanh toán, do những người vay tiền của B không trả tiền cho B nên B không có tiền để tra cho các chủ nợ, bị các chủ nợ đòi ráo riết và đe dọa nên B đã bỏ trốn khỏi địa phương. Trong trường hợp này không thể xử lý đối với B về tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS vì B không có ý thức chiếm đoạt số tiền đã vay.

Trường hợp người bị tố cáo tuy có sử dụng tiền, tài sản  vay mượn hoặc nhận qua các hình thức hợp đồng và đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp nhưng vẫn có khả năng trả lại tài sản thì cũng không thể xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS.

Ví dụ: Vụ án Võ Văn Lợi ký hợp đồng sang nhượng 50 ha đất rừng cho ông Đỗ Văn Vinh với giá 1 tỷ đồng, ông Vinh đã đưa trước cho Lợi 500 triệu đồng , khi ký hợp đồng sang nhượng số đất trên Lợi đã nói cho ông Vinh biết    đất mới được UBND huyện  phê duyệt trên phương án giao đất chứ chưa có quyết định giao đất, Lợi cam kết trong thời hạn 45 ngày sẽ hoàn tất hồ sơ đất và giao đất cho ông Vinh. Khi nhận được tiền của ông Vinh, Lợi đã sử dụng vào việc bất hợp pháp là đưa hối lộ cho một số cán bộ xã, huyện để nhờ giúp đỡ được giao đất nhưng do đất có tranh chấp nên UBND huyện đã hủy bỏ phương án giao đất và Lợi không có đất để giao cho ông Vinh, tiền Lợi cũng đã tiêu hết nên không có trả lại cho ông Vinh. Cơ quan điều tra công an huyện khởi tố đối Lợi về tội lừa đảo CĐTS, nhưng khi vụ án chuyển tỉnh, qua điều tra xác minh thấy rằng Lợi không có hành vi gian dối gì trước khi nhận tiền của ông Vinh và cũng không có mục đích chiếm đoạt tài sản của ông Vinh nên các cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh đã thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lợi về tội đưa hối lộ. Trong vụ án này  Lợi có hành vi nhận tiền thông qua hợp đồng và sử dụng tiền đó vào việc bất hợp pháp là đưa hối lộ, đến thời hạn giao đất không giao đất và cũng không có tiền để trả lại cho người mua đất, nhưng xét thấy tuy Lợi không có tiền để trả lại cho ông Vinh  nhưng tài sản của Lợi  qua giám định lớn hơn nhiều lần số tiền Lợi còn nợ ông Vinh nên Lợi vẫn còn khả năng thanh toán vì vậy các Cơ quan Điều tra và VKS thống nhất không khởi tố xử lý đối với Lợi về hành vi lạm dụng tín nhiệm CĐTS. Vụ án này đến nay đã xét xử phúc thẩm, HĐXX nhất trí với quan điểm của VKS.

III Một số kinh nghiệm trong việc kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, thực hành quyền công tố, KSĐT  đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Đối với loại tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đa phần các vụ án đã khởi tố điều tra, truy tố thường xảy ra kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định, kể từ khi người bị hại làm đơn tố cáo đến khi Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý thì Cơ quan điều tra có khoảng thời gian dài để tiến hành điều tra, xác minh gọi là xác minh tin báo. Kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết tin báo tố giác tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm CĐTS của Cơ quan điều tra không những VKS làm tốt nhiệm vụ theo quy định của BLTTHS mà nó còn là tiền đề, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra đối với vụ án, hạn chế tình trạng khởi tố vụ án, khởi tố bị can sau lại phải đình chỉ, hoặc phải kéo dài thời gian phê chuẩn yêu cầu cơ quan điều tra bổ sung thêm chứng cứ.

Xin nêu ra đây một vài vụ án do không làm tốt công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm nên khi Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can, VKS phê chuẩn nhưng sau đó phải đình chỉ vì không có căn cứ.

Vụ thứ nhất: Năm 1999 Vợ chồng Đặng Văn Của, Huỳnh Thị Nữ làm thủ tục để xin cấp GCNQSDĐ đối với 2 lô đất nông nghiệp của gia đình, nhưng UBND huyện đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất  nhầm sang diện tích đất của anh Võ Văn Anh, khi phát hiện cấp nhầm UBND huyện đã lập biên bản về việc cấp nhầm diện tích đất của người khác cho vợ chồng Của, Nữ, đồng thời cấp lại 2 GCNQSDĐ khác với đúng diện tích mà vợ chồng của đã kê khai cho gia đình Đặng Văn Của và yêu cầu vợ chồng Của giao nộp lại GCNQSDĐ đã cấp nhầm, nhưng vợ chồng Của không giao nộp, sau đó vợ chồng Của đã đem GCNQSDĐ mà UBND huyện cấp nhầm cho vợ chồng Của thế chấp cho bà Nguyễn Thị Kim Chi để vay 85 triệu đồng, đến hạn thanh toán vợ chồng Của không trả cho bà Chi nên bà Chi đã khởi kiện ra Toà án, Ngày 18/10/2010 Toà án huyện đã có Bản án số 42 tuyên xử buộc vợ chồng Của phải trả lại cho bà Chi số tiền 85 triệu đồng, Bản án đã có hiệu lực pháp luật. Do không làm tốt công tác điều tra xác minh nên ngày 1/3/2011 Cơ quan điều tra lại ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Của, Nữ và được VKS phê chuẩn. Trong quá trình điều tra mới phát hiện  việc vợ chồng Của vay bà Chi đã được Toà án xét xử bằng 1 bản án dân sự có hiệu lực pháp luật nên ngày 26/5/2011 Cơ quan điều tra đã phải ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can theo khoản 4 Điều 107 BLTTHS

Vụ thứ hai: Nguyễn Văn Đạo tạm trú tại 92 Đinh Núp, phường Tân Lập, TPBMT có quan hệ vay mượn tiền của chị Phan Thị Lan 2 lần vào các ngày 11 và 12 tháng 7 năm 2009 với tổng số tiền là 400 triệu đồng. Trong giấy biên nhận nợ không ghi thời hạn trả nợ, không ghi mục đích vay. Theo Đạo và chị Lan khai thì thời hạn vay là hẹn mấy ngay sau sẽ trả, nhưng khi chị Lan đòi nợ thì Đạo không có tiền trả với lý do kinh doanh chứng khoán bị thua lỗ. Do không có việc làm và bị bệnh nên vợ chồng Đạo đã bỏ về quê ở  xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Khi bỏ về quê Đạo có báo cho chị Lan biết nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể. Sau khi Đạo về quê giữa Đạo và chị Lan có liên lạc điện thoại với nhau nhiều lần, Đạo có hứa trả nợ cho chị Lan nhưng do chưa có tiền nên chưa trả, đến tháng 3/2010 thì chị Liễu gọi điện thoại nhưng Đạo không nghe máy. Tháng 8/2010 chị Lan gửi đơn tố cáo Đạo đến Cơ quan điều tra, Ngày 29/10/2010 Công an huyện xác minh  và đã xác định Đạo về quê ở tại xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, Hà Nội và có đăng ký tạm trú tại 419 khu Bình xá, xã Bình Phú. Ngày 3/11/2011 Cơ quan điều tra Công an huyện  khởi tố vụ án khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Đạo, về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Xét thấy việc vay mượn tiền giữa Đạo và chị Lan ban đầu là ngay thẳng và hợp pháp, không có sự lừa dối. Sau khi vay được tiền của chị Lan theo Đạo khai đã sử dụng vào việc mua chứng khoán và bị thua lỗ, Đạo không có hộ khẩu thường trú tại TPBMT mà chỉ tạm trú, khi Đạo trở về quê sinh sống và chữa bệnh thì Đạo có nói cho chị Lan biết, giữa chị Lan và Đạo vẫn liên lạc với nhau, Đạo vẫn thừa nhận nợ và có hứa trả nợ cho chị Lan, nhưng do chưa có tiền nên Đạo chưa trả cho chị Lan, Đạo không có hành vi gian dối gì nhằm mục đích chiếm đoạt tiền vay của chị Lan, việc Đạo bị bệnh và điều trị bệnh tại Bệnh viện ở Hà Nội là có thật. Khi Đạo về quê chữa bệnh thì Đạo có đăng ký tạm trú rõ ràng, Trước khi cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đạo thì Cơ quan điều tra cũng đã xác định rõ nơi ở của Đạo nhưng không tiến hành lấy lời khai của Đạo để làm rõ nội dung Đạo có ý thức bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hay không, quá trình điều tra Đạo Không thừa nhận có mục đích bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản. Do vậy việc Cơ quan điều tra xác định Đạo bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản là không có căn cứ vững chắc. Vụ án sau đó phải đình chỉ điều tra.

 Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thực tế cho thấy rất khó chứng minh, dễ nhầm lẫn với quan hệ pháp luật dân sự , quan hệ pháp luật kinh tế. Việc điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ trước khi khởi tố đối với các hành vi này đòi hỏi phải được tiến hành một cách hết sức thận trọng, xem xét kỹ từng tài liệu, chứng từ, biên nhận thu thập được đối chiếu với lời khai của người tố cáo và người bị tố cáo để từ đó đánh giá xác định có hay không có hành vi phạm tội, hay đó chỉ là quan hệ tranh chấp dân sự, quan hệ tranh chấp kinh tế.

Quá trình kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác tội phạm đã có những tin báo từ Điều tra viên, Đội trưởng, cho đến Phó thủ trưởng, Thủ trưởng Cơ quan điều tra  đều nhất trí khởi tố bắt tạn giam đối với người bị tố cáo, nhưng do việc thực hiện tốt công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác tội phạm của Cơ quan điều tra, VKS đã kịp thời phát hiện ra hành vi của người bị tố cáo chỉ là tranh chấp về kinh tế hoặc là chưa đủ căn cứ để khởi tố nên khi VKS trao đổi với Cơ quan điều tra thì Cơ quan điều tra chấp nhận. Xin nêu ra 2 vụ việc điển hình sau:

Vụ  Nguyễn Phi Hải tố cáo Bùi Thị Hường lừa đảo chiếm đoạt tài sản:  Qua xác minh ban đầu cơ quan điều tra xác định Hường đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt, cần phải khởi tố , tạm giam. vì: Ngày 7/5/2009 Hường đã sử dụng nhà đất tại 144 Nguyễn Chí Thanh là tài sản đã bị thi hành án kê biên theo  biên bản kê biên tài sản 4/5/2009 của Thi hành án thành phố BMT đem thế chấp cho anh Hải để vay 1,1 tỷ đồng với cam kết 3 ngày sẽ trả, nhưng đến hạn Hường không trả. Qua nghiên cứu hồ sơ  KSV thấy có nhiều nội dung còn mâu thuẫn, Hải chỉ đưa ra được hợp đồng vay tiền nhưng không xuất trình được giấy biên nhận nên đã trực tiếp cùng với Điều tra viên tiến hành lấy lời khai của anh Hải, lời khai của Hường và yêu cầu thu thập líp điện thoại của Hường và anh Hải.  Qua đấu tranh, xác minh thấy rằng việc anh Hải tố cáo Hường chiếm đoạt 1,1 tỷ đồng vào ngày 7/5/2009 là chưa có căn cứ và có những nội dung không đúng, cụ thể: trong đơn tố cáo và một số lời khai, đối chất ban đầu anh Hải khai nhận: trước thời điểm 5/5/2009 anh Hải không quen biết Hường, không có quan hệ cho vay tiền với Hường, khi cho Hường vay tiền không có giấy biên nhận tiền chỉ có hợp đồng vay tiền do anh viết bằng tay có đè giấy than. Trong khi đó Hường khai nhận: thực chất Hường vay của Hải chỉ có 700 triệu đồng vào ngày 12/3/2009 trước ngày (tài sản của Hường bị thi hành án kê biên) có viết giấy biên nhận, hợp đồng vay tiền Hường ký khống, nội dung trong hợp đồng là do Hải viết sau. Khi Hải cho mượn tiền để đáo hạn ngân hàng thì người nhà của Hải có đem tiền đến ngân hàng Đông Á giao tiền và nhận bìa đỏ nhà đất 144 Nguyễn Chí Thanh, việc này có chị Võ Thị Hoan chứng kiến. xét thấy lời khai của Hường phù hợp với lời khai của chị Hoan, phù hợp với líp điện thoại thu giữ được, thể hiện Hường và Nguyễn Phi Hải đã có quan hệ quen biết liên lạc với nhau từ tháng 3/2009, trong ngày 12/3/2009 Hường và Hải liên lạc với nhau nhiều cuộc và từ đó về sau 2 bên thường xuyên liên lạc với nhau. Khi Cơ quan điều tra thu thập được líp điện thoại thì Nguyễn Phi Hải lúc này mới thừa nhận có quan hệ quen biết với Hường từ trước đó chứ không phải là đến ngày 5/5/2009 mới quen như tố cáo và lời khai ban đầu, có nội dung Hải khai không dúng là khi viết hợp đồng thì Hải viết cả 2 bản bằng bút bi chứ không phải 1 bản chính 1 bản đè giấy than như trước đó Hải đã khai, Hải không đưa ra được giấy biên nhận tiền ngoài hợp đồng vay tiền đã giao nộp trước đó. Do vậy VKS thấy chưa có căn cứ xác định Hường có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của Nguyển Phi Hải. Quan điểm của VKS được Cơ quan điều tra chấp thuận.

Vụ thứ hai; Trong thời gian từ 31/3/ đến 5/5/2008  ông Nguyễn Văn Đức giám đốc công ty TNHH Đức an ký kết 3 hợp đồng mua bán sắn lán với HTX Cao Sơn, HTX Cao Sơn đã chuyển cho Đức 8 tỷ đồng để mua sắn, Đức mới giao cho Cao Sơn hàng hoá trị giá 5.672.570.065đ còn nợ lại 2.327.429.935đ lý do là ông Đức giao sắn không đủ phẩm chất nên HTX cao Sơn không nhận, Đức đã bán số hàng này đi lấy tiền trả nợ ngân hàng, sau đó Đức không còn khả năng thanh toán số nợ này cho HTX Cao Sơn, HTX Cao Sơn làm đơn tố cáo Đức đến Cơ quan điều tra, qua xác minh Cơ quan điều tra xác định Đức có hành vi lạm dụng tin nhiệm chiếm đoạt tài sản, nên cần khởi tố bắt tạm giam. Qua nghiên cứu hồ sơ VKS thấy rằng đây chỉ là tranh chấp kinh tế, không có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bởi vì: Việc ký kết hợp đồng giữa HTX Cao Sơn với Nguyễn Văn Đức giám đốc công ty TNHH  Đức An được tiến hành ngay thẳng và hợp pháp không có hành vi gian dối trước khi ký kết hợp đồng để chiếm đoạt tài sản, sau khi ký kết hợp đồng Công ty Đức An có thực hiện hợp đồng giao hàng cho HTX Cao Sơn trị giá 5.672.570.000 đồng ( bao gồm cả thuế) trên tổng số tiền 8 tỷ đồng nhận của HTX Cao sơn, chỉ còn nợ lại 2.327.429.935 đồng, số tiền nợ này là do ông Đức giao hàng không đúng chất lượng nên HTX Cao Sơn không nhận, do đó công ty Đức An đã đem bán đi để lấy tiền sử dụng, quá trình thanh lý đối chiếu hợp đồng Nguyễn Văn Đức  vẫn thừa nhận nợ theo chứng từ đã nhận tiền. Như vậy sau khi nhận số tiền 8 tỷ đồng của HTX Cao Sơn Nguyễn Văn Đức không có hành vi gian dối như sửa chữa, tẩy xóa chứng từ.., không bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản và cũng không sử dụng tài sản đã nhận được vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, hơn nữa trong Hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa công ty Đức An và HTX Cao Sơn có điều khoản quy định: “Trường hợp có tranh chấp xảy ra hai bên không tự giải quyết được sẽ đưa ra Tòa kinh tế tỉnh Đăklăk để giải quyết, Quyết định của Tòa án là quyết định cuối cùng.” Do vậy quan hệ thanh toán tiền – hàng giữa HTX Cao Sơn và Nguyễn Văn Đức là quan hệ hợp đồng kinh tế, tranh chấp trong mối quan hệ này được điều chỉnh bằng quy định pháp luật kinh tế. VKS đã có văn bản trao đổi với Cơ quan điều tra và Cơ quan điều tra chấp thuận.

Qua thực tế đấu tranh, xử lý đối với hành vi lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong tình hình hiện nay, chúng tôi xin nêu một số kinh nghiệm  trong việc việc xử lý đối với loại tội: lạm dụng tín nhiệm, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, để các đồng chi tham khảo, cụ thể như sau:

- Trường hợp người bị tố cáo dùng thủ đoan gian dối để nhận được tiền và tài sản của người khác rồi chiếm đoạt luôn không trả lại  cho chủ sở hữu thì khởi tố xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Trường hợp người kinh doanh đã bị thua lỗ mất khả năng thanh toán trước đó nhưng vẫn dùng thủ đoạn gian dối để vay tiền hoặc để nhận tài sản của người khác, rồi dùng tiền hoặc bán tài sản nhận được để trả nợ cho các khoản nợ trước đó rồi tuyên bố vỡ nợ, không có khả năng thanh toán, trường hợp này cần khởi tố xử lý đối với người bị tố cáo về tội: lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

 - Trường hợp người bị tố cáo không có hành vi gian đối gì trước khi nhận được tài sản, nhưng sau khi nhận đựơc tài sản đã đem bán hoặc cầm cố  tài sản nhận được để lấy tiền tiều sai, sau đó bỏ trốn nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, hoặc sử dụng tài sản nhận được vào mục đích bất hợp pháp như buôn lậu, buôn bán hàng cấm, đưa hối lộ, đánh bạc …dẫn đến không có khả năng thanh toán, hoặc có hành vi gian dối như tìm cách tẩy xóa, sửa chữa chứng từ giấy biên nhận, tẩu tán tài sản, hoặc nhờ nười khác đứng ra nhận nợ khống, nhằm chiếm đoạt tài sản, trong tường hợp này cần phải xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

- Trường hợp người bị tố cáo không có hành vi gian đối gì trước khi nhận được tài sản, nhưng sau khi nhận đựơc tiền hoặc tài sản đã đem bán tài sản nhận được lấy tiền để sử dụng vào mục đích kinh doanh bị thua lỗ hoặc đưa tiền cho người khác bị người khác chiếm dụng chưa trả thì không có căn cứ khởi tố hình sự. Trường hợp này ra quyết định không khởi tố và hướng dẫn các dương sự khởi kiện ra tòa án.

Do hiện nay Điều 32 Luật cư trú có quy định khi một người đi khỏi địa phương nơi cư trú nếu không thuộc các đối tượng quy định tại K1, 2 Đ 32 thì không phải đăng ký tạm vắng do vậy đối với trường hợp người vay mượn tài sản đến thời hạn không trả sau đó bỏ đi khỏi địa phương thì việc xác định người đó có bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản hay không thì cần phải làm rõ nội dung sau:

+ Xác minh tại chính quyền địa phương nhiều lần ít nhất là 2 lần trở lên, ghi lời khai người thân của đối tượng như ông bà, cha me, vợ chồng, anh chị em ruột, người hàng xóm, người bị hại về việc họ có liên lạc với đối tượng không? Có biết đối tượng ở đâu không nếu qua xác minh chính quyền địa phương xác nhân đối tượng bỏ đi khỏi địa phương không có khai báo, những người thân, hàng xóm, người bị hai xác nhận không biết đối tượng ở đâu thì phải xem xét đó là hành vi bỏ trốn.Qua xác minh nếu người bỏ trốn không còn khả năng thanh toán hoặc đã bán tài sản trước khi bỏ đi, trường hợp này cần xác định là bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản .

Hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản trong tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thường thể hiện ở các dạng sau:

+ Tìm cách tẩy xoá xửa chữa chứng từ, giấy biên nhận để chối bỏ trách nhiệm thanh toán nợ;

+ Tẩu tán tài sản, sang nhượng tặng cho cho người thân số tài san hiện có nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền đã vay.

+ Lập các chứng từ sổ sách giả để giải trình do làm ăn bị thua lỗ hoặc nhờ người khác nhận nợ khống để hợp lý hóa số tiền đã vay.

+ Mượn thuê tài sản của người khác rồi đem cầm cố, thế chấp, sang nhượng, mua bán lấy tiền tiều sài.

Hành vi sử dung số tiền tài sản vào mục đích bất hợp pháp trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là sử dụng vào những việc mà pháp luật cấm như: buôn lậu, đánh bạc, đưa hối lộ, buôn bán hàng cấm, buôn bán hàng giả.

Trên đây là một số kinh nghiệm trong việc xử lý án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Phòng 1 VKSND tỉnh Đăk Lăk nêu lên để các đồng chí tham khảo thực hiện .

Nguyễn Xuân Hoà

 

Các bài khác...

 
 
 
 
 
 
Phim tư liệu
Tháng mười hai 2014
M T W T F S S
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31 1 2 3 4
Văn bản chỉ đạo điều hành
Tố giác tội phạm
Banner đo đường truyền Internet
---- Thống Kê Lượt Truy Cập ----
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay4574
mod_vvisit_counterHôm qua3290
mod_vvisit_counterTháng này215107
mod_vvisit_counterTổng cộng6274445
 
Bản quyền thuộc: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK.
Giấy phép số 79/GP-TTĐT do Cục QL Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử cấp ngày 11/06/2012
Chịu trách nhiệm chính: Ông Trần Đình Sơn – Viện Trưởng - Trưởng Ban biên tập
Địa chỉ: 11 Nguyễn Tất Thành - TP. Buôn Ma Thuột – Đắk Lắk
Điện thoại: 0500.3537979 - (Số máy lẻ 212) - Fax: 0500.3952051
Email: banbientap@vksnd.daklak.gov.vn - banbientap@vksdaklak.gov.vn
Liên hệ | Trợ giúp | Sơ đồ web | Hỏi đáp
Thiết kế và xây dựng: www.googlehost.vn