ĐẢNG - ĐOÀN THỂ
CÁC PHÒNG NGHIỆP VỤ
VKSND HUYỆN, T.XÃ, TP
ẢNH TƯ LIỆU
THÔNG TIN NỘI BỘ
TRAO ĐỔI NGHIỆP VỤ
GÓP Ý HIẾN PHÁP
CẢI CÁCH CÔNG VỤ, CC
TÂM SỰ & SUY NGẪM
Banner KSV cần biết
Hướng dẫn sử dụng mail
Hộp thư nội bộ
Công nghệ thông tin
Banner Công Báo
Quy chế phối hợp VKS - VIETTEL
 
 
Trang chủ arrow ĐẢNG - ĐOÀN THỂ arrow Đảng bộ
Báo cáo tự kiểm tra việc thực hiện nghị quyết 22 - NQ/TW
20/06/2012

Số: 41/BC-ĐU ngày 18  tháng 6  năm 2012

BÁO CÁO TỰ KIỂM TRA VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 22 - NQ/TW, HỘI NGHỊ LẦN THỨ 6 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG (KHOÁ X ) CỦA ĐẢNG

Thực hiện Hướng dẫn số 09 - HD/ĐUK, ngày 23/5/2012 của Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh về báo cáo tự kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết số 22 - NQ/TW, ngày 02/02/2008, Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương (khoá X) của Đảng; Kế hoạch số 48 - KH/TU, ngày 28/04/2008 của Tỉnh ủy về“ nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên”. Đảng ủy Viện kiểm sát nhân dân (KSND) tỉnh Đắk Lắk báo cáo kết quả triển khai, thực hiện như sau:

ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG

Viện KSND tỉnh Đắk Lắk là cơ quan chuyên môn, có hệ thống tổ chức ngành dọc dưới sự quản lý, chỉ đạo, điều hành của Viện KSND tối cao về công tác tổ chức cán bộ và chuyên môn nghiệp vụ, có chức năng nhiệm vụ: “ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật” và chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh. Ngoài  ra còn có trách nhiệm phối hợp với Tòa án, Công an, Thanh tra, Tư pháp, các cơ quan Nhà nước, Uỷ ban mặt trận Tổ quốc tỉnh và các tổ chức thành viên của Mặt trận, lực lượng vũ trang để phòng, chống tội phạm, xử lý nghiêm minh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật; tuyên truyền, giáo dục pháp luật.

 Bộ máy tổ chức của Viện KSND tỉnh Đắk Lắk trong những năm qua gồm có Ban cán sự Đảng chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban cán sự Viện KSND tối cao, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh và 11 chi bộ trực thuộc Đảng bộ. Về chính quyền có 11 phòng nghiệp vụ và Văn phòng tổng hợp. Các tổ chức đoàn thể gồm Công đoàn cơ sở, chi Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, chi Hội luật gia và chi Hội cựu chiến binh cơ quan.

Cơ cấu bộ máy tổ chức của Viện KSND tỉnh từng bước được kiện toàn theo tinh thần Nghị quyết 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đảm bảo đáp ứng yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương.

II. ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN

Thuận lợi:

 Qúa trình quán triệt, triển khai và tổ chức thực hiện Nghị quyết 22 - NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng và Kế hoạch số 48 - KH/TU của Tỉnh ủy, Đảng bộ luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Ban cán sự Đảng Viện KSND tối cao, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong chính quyền, đoàn thể đều cơ cấu trong cấp ủy Đảng bộ và các chi bộ trực thuộc đảm bảo về số lượng, chất lượng theo quy định và được bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác Đảng đủ sức lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng các cấp, Chương trình, Kế hoạch công tác của ngành đề ra. Nhiệm kỳ 2005 - 2010 cơ cấu cấp ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ Viện KSND tỉnh 07 đồng chí. Nhiệm kỳ 2011 - 2015 là 09 đồng chí, trong đó có Ban Thường vụ Đảng ủy 03 đồng chí. Đội ngũ đảng viên đông, chiếm tới 60 đảng viên trên tổng số 78 cán bộ công chức toàn cơ quan. Tập thể lãnh đạo, cấp ủy viên các cấp và Đảng viên, công chức trong Đảng bộ luôn đoàn kết, thống nhất cao trong nhận thức và hành động; được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức trong giai đoạn mới theo quy định của Đảng, Nhà nước và Viện KSND tối cao.

- Trình độ lý luận chính trị: Cử nhân chính trị có 01/ 78 đồng chí = 1,28 % ; cao cấp 20/78 đồng chí =  25,64  %  và 01 đồng chí đang tiếp tục theo học sẽ hoàn chỉnh chương trình vào năm tới; 2/78 đồng chí =  2,56  %  trung cấp.

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Thạc sỹ Luật có 01/78 đồng chí = 1,28  %; Cử nhân Luật có  62/78 đồng chí = 79,49 %; Cử nhân chuyên ngành khác 07/78 đồng chí =  8,97 %; Cao đẳng khác 1/78 đồng chí = 1,28  % . Số công chức còn lại được đào tạo theo yêu cầu công việc.

Khó khăn:

Bên cạnh những thuận lợi trên, quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết 22- NQ/TW, Kế hoạch số 48 - KH/TU của Đảng ủy Viện KSND tỉnh còn gặp những khó khăn nhất định. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn toàn tỉnh tuy đã ổn định, nhưng vẫn còn tiềm ẩn những bất ổn khó lường. Chỉ tiêu biên chế, các chức danh pháp lý, công tác hậu cần tuy đã được Viện KSND tối cao quan tâm bổ sung, nhưng so với yêu cầu nhiệm vụ của ngành nhìn chung chưa đảm bảo. Giá cả thị trường, đặc biệt là những mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân luôn biến động do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong những năm gần đây, vì vậy đã tác động đến tư tưởng và ảnh hưởng trực tiếp đời sống sinh hoạt của đội ngũ công chức nói chung và công chức ngành kiểm sát nói riêng. Đội ngũ cấp ủy các chi bộ và Đảng bộ đều làm công tác kiêm nhiệm, khối lượng công việc chuyên môn nhiều đòi hỏi cần giải quyết kịp thời mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, do đó thời gian để tập trung nghiên cứu chuyên sâu về công tác xây dựng Đảng còn hạn chế…

Những khó khăn khách quan nêu trên ít nhiều có ảnh hưởng đến nhiệm vụ lãnh đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng. Tuy nhiên những điều kiện thuận lợi là cơ bản, đã giúp cho Đảng bộ lãnh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết 22 - NQ/TW6 của Đảng.

B. KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 22 - NQ/TW, HỘI NGHỊ LẦN THỨ 6  BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ( KHOÁ X ) CỦA ĐẢNG

I. VIỆC LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO

1. Phổ biến,quán triệt Nghị quyết

Căn cứ Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Hưỡng dẫn của Ban Thường vụ Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh về việc triển khai, thực hiên Nghị quyết số 22 - NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ( khóa X) của Đảng, Đảng bộ VKSND tỉnh Đắk Lắk đã kịp thời phổ biến, quán triệt đến toàn thể Đảng viên, công chức trong Đảng bộ để có nhận thức thống nhất về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.

 Hình thức quán triệt: Đảng viên Đảng bộ Viện KSND tỉnh quán triệt Nghị quyết 22 - NQ/TW theo hai đợt. Đợt một do cấp ủy Đảng cấp trên quán triệt quán triệt cho các đồng chí đảng viên giữ chức vụ trong Đảng và chính quyền, đoàn thể. Đợt hai quán triệt cho toàn thể đảng viên, công chức còn lại tại trụ sở cơ quan Viện KSND tỉnh. Sau hai đợt, 100% Đảng viên, công chức của Đảng bộ được quán triệt.

Sau khi quán triệt Nghị quyết số 22 - NQ/TW, 100% đảng viên, công chức Viện KSND tỉnh có nhận thức đầy đủ về vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên trong lãnh đạo lãnh đạo, tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng nhằm không  nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.

2. Việc xây dựng kế hoạch, biện pháp thực hiện Nghị quyết.

 Căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của ngành, Đảng bộ Viện KSND tỉnh đã xây dựng Kế hoạch, Chương trình hành động cụ thể triển khai đến các chi bộ trực thuộc để thống nhất thực hiện, đồng thời phân công các đồng chí đảng ủy viên giúp Đảng ủy thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát các chi bộ trong việc lãnh đạo, tổ chức thực hiện Chương trình, Kế hoạch của Đảng bộ. Hàng tháng, sáu tháng và một năm, Đảng bộ Viện KSND tỉnh và các chi bộ trực thuộc thực hiện tốt việc kiểm điểm kết quả lãnh đạo, tổ chức thực hiện Nghị quyết. Đặc biệt Đảng ủy đã hướng dẫn các chi bộ gắn kết quả thực hiện Nghị quyết vào việc phân tích, đánh giá chất lượng tổ chức Đảng và đảng viên hàng năm để chấm điểm xếp loại. Do việc xây dựng Chương trình, Kế hoạch thiết thực, cụ thể nên vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ và các chi bộ được phát huy, nội dung sinh hoạt đảng phong phú, thường xuyên được đổi mới, chất lượng đội ngũ đảng viên được nâng cao.

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN

1. Việc tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dưng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ, phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, thực sự tiền phong gương mẫu, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ

Đảng bộ Viện KSND tỉnh luôn đặc biệt quan tâm đến công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng nên những năm qua 100% đảng viên, công chức trong Đảng bộ giữ vững lập trường, tư tưởng, không ngừng rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống của đảng viên, công chức; gương mẫu chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước; giữ nghiêm kỷ luật Đảng, kỷ luật lao động, tích cực phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đấu tranh với mọi âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Thường xuyên quan tâm việc đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ Đảng viên, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của ngành Kiểm sát trong giai đoạn mới; Đảng viên, công chức luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ và cơ quan đơn vị; chấp hành tốt Quy định của Đảng và Nhà nước về những điều đảng viên, công chức không được làm. Không có trường hợp đảng viên, công chức vi phạm kỷ luật Đảng và kỷ luật lao động. 100% đảng viên, công chức trong Đảng bộ tích cực hưởng ứng Chỉ thị số 06 - CT/TW và Chỉ thị số 03 - CT/TW của Đảng về tiếp tục đẩy mạnh việc“ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

2. Hoàn thiện tổ chức cơ sở Đảng; chăm lo đến công tác phát triển đảng

a. Hoàn thiện tổ chức bộ máy tổ chức Đảng VKSND tỉnh:  

Năm 2007, Đảng bộ cơ sở Viện KSND tỉnh Đắk Lắk có 7 chi bộ trực thuộc với tổng số là 53 đảng viên, đó là:

    - Chi bộ Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự ( Chi bộ 1);

    - Chi bộ thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án an ninh - ma túy (Chi bộ 2)

    - Chi bộ Thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm án hình sự ( Chi bộ 3);

    - Chi bộ kiểm sát giam giữ, cải tạo - thi hành án ( Chi bộ 4);

    - Chi bộ kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình (Chi bộ 5);

    - Chi bộ Tổ chức, văn phòng, thống kê tội phạm ( Chi bộ 6);

    - Chi bộ kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính - kinh tế - lao động và giải quyết đơn tố cáo khiếu nại của công dân ( Chi bộ 7).

 Thực hiện quy định của Đảng, Nhà nước và Viện KSND tối cao về việc điều động, luân chuyển cán bộ, công chức. Những năm qua Viện KSND tỉnh Đắk Lắk đã điều động một số đồng chí giữ chức vụ Trưởng phòng, cấp ủy viên Đảng bộ và chi bộ tăng cường cho các đơn vị Viện KSND huyện, thị xã, thành phố. Sau khi điều động, luân chuyển cán bộ, công chức, Đảng độ phối hợp với Ban cán sự Đảng, lãnh đạo Viện tiến hành việc kiện toàn tổ chức bộ máy đối với một số đơn vị nghiệp vụ Viện KSND tỉnh theo hướng chuyên khâu, do đó đòi hỏi một số chi bộ thuộc Đảng bộ cũng được kiện toàn, bố trí sắp xếp lại để phù hợp cơ cấu tổ chức bộ máy của chính quyền theo quy định của Điều lệ Đảng, đồng thời đề nghị Tổ chức đảng cấp trên và Viện KSND tối cao bổ nhiệm các chức vụ chủ chốt trong Đảng, chính quyền đảm bảo đủ sức lãnh đạo đơn vị thực hiện tốt các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước và Chương trình, Kế hoạch công tác của ngành kiểm sát theo chức năng, nhiệm vụ được giao, theo đó:

- Chi bộ 1 cũ được tách, thành lập chi bộ mới, lấy tên là chi bộ 1, chi bộ 1A   

- Chi bộ 2 giữ nguyên;

- Chi bộ 3 giữ nguyên;

- Chi bộ 4 cũ được tách, thành lập 2 chi bộ mới, lấy tên là chi bộ 4 và chi bộ 10;

- Chi bộ 5 giữ nguyên;

- Chi bộ 6 được tách, thành lập 3 chi bộ mới, lấy tên là chi bộ 6, 8 và chi bộ 9;

- Chi bộ 7 được đổi thành tên gọi chi bộ 12. Số đảng viên của Phòng xét khiếu nại tố cáo của công dân ( Phòng 7) trước đây sinh hoạt với chi bộ 7 được chuyển về sinh hoạt tại chi bộ 9.

Như vậy, năm 2007 Đảng bộ Viện KSND tỉnh Đắk Lắk có 7 chi bộ thì đến năm 2011 có 11 chi bộ trực thuộc.

 b. Kết quả  phân tích, đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên của Đảng bộ  từ năm 2008 đến 2011

Năm 2008:  Tổng số chi bộ đánh giá, xếp loại là 9/9chi bộ. Tổng số đảng viên đánh giá, xếp loại là 53/53 đồng chí. Kết quả:

- Về cá nhân: Có 41/53 đồng chí = 77,36 % đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong đó 12/53 đồng chí  =  22,64  % đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 09/ 53 đồng chí = 16,98 % được Đảng ủy cơ quan tặng giấy khen; 02 đồng chí được Đảng ủy khối tặng giấy khen; 01 đồng chí được Tỉnh ủy tặng Bằng khen.

- Về tập thể: Có 9/9  = 100 % chi bộ đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh; 3/9 chi bộ  =  33,33  % được đảng ủy cơ quan tặng giấy khen.

Đảng bộ đạt danh hiệu “ Trong sạch, vững mạnh”.

Năm 2009:  Tổng số chi bộ đánh giá, xếp loại là 9/9 chi bộ. Tổng số đảng viên đánh giá, xếp loại là 54/54 đồng chí. Kết quả:

- Về cá nhân: Có 39/54 đồng chí  = 72,22 %  đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong đó có 15/54 đồng chí  = 27, 78 % đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 11/54 đồng chí = 20,37 % được đảng ủy cơ quan tặng giấy khen; 03/ 54 đồng chí  =   5,56 % được đảng ủy khối tặng giấy khen.

- Về tập thể: Có 9/9  =  100 % chi bộ đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh; 4/9 chi bộ  =  44,44  % được đảng ủy cơ quan tặng giấy khen. 02 chi bộ Đảng bộ đề nghị Đảng ủy khối khen về thành tích 3 năm liền đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh tiêu biểu.

 Đảng bộ đạt danh hiệu “ Trong sạch, vững mạnh”.

Năm 2010: Tổng số chi bộ đánh giá, xếp loại là 11/11 chi bộ. Tổng số đảng viên đánh giá, xếp loại 54/54 đồng chí. Kết quả:

- Về cá nhân: Có 39/54 đồng chí  = 72,22 %  đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong đó có 15/54 đồng chí  = 27, 78 % đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 11/54 đồng chí  =  20,37 % được đảng ủy cơ quan tặng giấy khen; 02/ 54 đồng chí  =  3,70  % được đảng ủy khối tặng giấy khen.

- Về tập thể:  Có 11/11 = 100% chi bộ đạt trong sạch, vững mạnh; 3/11 chi bộ = 27,27 % được đảng ủy cơ quan tặng giấy khen; 4/11 chi bộ  =  36,36 % đề nghị đảng ủy khối tặng giấy khen.

 Đảng bộ đạt danh hiệu “ Trong sạch, vững mạnh” .

Năm 2011: Tổng số chi bộ đánh giá, xếp loại là 11/11 chi bộ. Tổng số đảng viên đánh giá, xếp loại 59/59 đồng chí. Kết quả:

- Về cá nhân: Có 59/59 đồng chí = 100 %  đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong đó có 18/59 đồng chí =  30,31 % đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 14/59 đồng chí  =  23,73  % được đảng ủy cơ quan tặng giấy khen.

- Về tập thể: 11/11 = 100% chi bộ trực thuộc đạt trong sạch, vững mạnh được đảng ủy cơ quan tặng giấy khen.

Đảng bộ đạt danh hiệu “ Trong sạch, vững mạnh” .

c. Công tác phát triển đảng viên

Trong những năm qua Đảng bộ Viện KSND tỉnh luôn quan tâm đến công tác phát triển đảng viên mới. Từ năm 2008 đến năm 2011 Đảng bộ Viện KSND tỉnh đã đề nghị và được đảng bộ khối các cơ quan tỉnh xét kết nạp và công nhận đảng viên chính thức 06 đồng chí. Qúa trình thực hiện công tác phát triển đảng đảm bảo chặt chẽ, đúng quy trình theo quy định của Đảng. Chất lượng đội ngũ đảng viên mới được kết nạp có phẩm chất chính trị và năng lực công tác tốt, phát huy vai trò, tính tiền phong, gương mẫu, hoàn thành tốt nhiệm vụ đảng viên theo quy định của Đảng.

d. Xây dựng các tổ chức đoàn thể:  

Từ năm 2008 đến nay, Đảng bộ Viện KSND tỉnh luôn duy trì hoạt động của 04 tổ chức đoàn thể gồm: Công đoàn cơ sở, chi đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, chi Hội cựu chiến binh và chi hội Luật gia. Cơ cấu tổ chức bộ máy các tổ chức đoàn thể cơ quan từng bước được kiện toàn phù hợp cơ cấu tổ chức Đảng, chính quyền, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo quy định. Đội ngũ cán bộ chủ chốt các tổ chức đoàn thể được bổ sung kịp thời đảm bảo tính kế thừa, đều giữ các chức vụ trong bộ máy của Đảng và chính quyền, có phẩm chất đạo đức tốt, đủ năng lực lãnh đạo và tập hợp đoàn viên, hội viên đoàn kết, khắc phục khó khăn phấn đấu hoàn thành mọi  nhiệm vụ được giao. Những năm qua các tổ chức đoàn thể cơ quan luôn phát huy vai trò, trách nhiệm, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên nghiêm chỉnh chấp hành mọi chủ trương, đường lối, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào thi đua do Ngành và các tổ chức Đảng, đoàn thể trong tỉnh phát động đạt kết quả cao. Hàng năm đều được công nhận Tổ chức đoàn thể  trong sạch, vững mạnh.  

3.  Việc đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động của tổ chức cơ sở đảng

- Cơ cấu các chức vụ trong đảng: Từ năm 2008 đến nay, Đảng bộ Viện KSND tỉnh luôn thực hiện cơ cấu đồng chí Phó Viện trưởng giữ chức vụ bí thư Đảng bộ, các chi bộ trực thuộc được cơ cấu đồng chí Trưởng phòng hoặc Phó trưởng phòng giữ chức vụ bí thư hoặc phó bí thư chi bộ. Đại hội nhiệm kỳ 2011 - 2015, Đảng bộ Viện KSND tỉnh đã bầu bổ sung thêm 01 đồng chí Phó Viện trưởng giữ chức vụ Phó bí thư Đảng bộ, chủ nhiệm Uỷ Ban kiểm tra Đảng ủy.

- Nội dung, phương pháp hoạt động: Đảng ủy và các chi bộ trực thuộc duy trì có nề nếp chế độ sinh hoạt thường kỳ theo quy định của Điều lệ Đảng, mỗi tháng Đảng ủy và các chi bộ tổ chức họp một lần vào những ngày đầu tháng, tỷ lệ đảng viên tham gia sinh hoạt luôn đảm bảo từ 95 % trở lên. Nội dung sinh hoạt được đảng ủy và các chi bộ chuẩn bị chu đáo, đảm bảo đầy đủ các nội dung, sát với yêu cầu nhiệm vụ của đảng bộ và các chi bộ trong từng giai đoạn. Trong sinh hoạt luôn trú trọng đến việc tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng qua đó giúp cho đảng viên nâng cao nhận thức mọi mặt, phát huy tính tiền phong gương mẫu chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước; luôn thực hiện việc đổi mới nội dung sinh hoạt đảng, đồng thời gắn nội dung“ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể trong sinh hoạt Đảng, xây dựng Nghị quyết lãnh đạo phù hợp, đúng với yêu cầu nhiệm vụ của từng đơn vị; phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình, giữ nghiêm Kỷ luật, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; quan tâm giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống và năng lực công tác cho đảng viên, công chức, từng bước khắc phục tính hình thức, đơn điệu trong sinh hoạt đảng, đảm bảo tính lãnh đạo, tính chiến đấu và tính giáo dục cao.

4. Việc thực hiện chủ trương trẻ hóa, tiêu chuẩn hóa công tác cán bộ

Từ năm 2008 đến năm 2011 Đảng bộ Viện KSND tỉnh thực hiên tốt công tác đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển cán bộ theo quy định của Đảng, Nhà nước và Viện KSND tối cao như sau:

 a. Công tác bổ nhiệm, luân chuyển và điều động:

Đã cử 08 đồng chí đưa đi đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát và hoàn chỉnh kiến thức luật; bổ nhiệm mới 01 đồng chí Viện trưởng, 02 đồng chí Phó Viện trưởng; 09 đồng chí Trưởng phòng nghiệp vụ; 07 đồng chí Phó trưởng phòng; 13 Kiểm sát viên trung cấp; 07 kiểm sát viên sơ cấp Viện KSND tỉnh. Luân chuyển 03 đồng chí Trưởng phòng nghiệp vụ Viện KSND tỉnh về công tác tại Viện KSND huyện đồng thời bổ nhiệm giữ chức vụ Viện trưởng; 05 đồng chí Phó trưởng phòng từ phòng này đến phòng khác để bổ nhiệm chức vụ Trưởng phòng; điều động, bổ nhiệm 03 đồng chí Viện Trưởng huyện về công tác tại Viện KSND tỉnh giữ chức vụ Trưởng phòng nghiệp vụ; 01 đồng chí Phó Viện Trưởng huyện về giữ chức vụ Phó Trưởng phòng nghiệp vụ Viện KSND tỉnh. Điều động 13 kiểm tra viên, chuyên viên từ Phòng nghiệp vụ này đến công tác tại Phòng khác. 

b. Công tác quy hoạch cán bộ:

- Bổ sung quy hoạch chức vụ Viện trưởng Viện KSND tỉnh nhiệm kỳ 2010 - 2015 =  03 đồng chí, Phó Viện trưởng 05 đồng chí;

- Quy hoạch chức vụ Trưởng Phòng nghiệp vụ Viện KSND tỉnh nhiệm kỳ 2010 - 2015 = 02 đồng chí; bổ sung quy hoạch Phó Trưởng phòng 01 đồng chí.

 - Giữ nguyên quy hoạch Viện Trưởng Viện KSND tỉnh nhiệm kỳ 2015 - 2020 = 02 đồng chí, Phó Viện trưởng Viện KSND tỉnh 06 đồng chí;

c. Chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh chủ chốt và cấp ủy viên các cấp:

 Trong những năm qua Đảng ủy, lãnh đạo Viện KSND tỉnh luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ cán bộ chủ chốt tiếp tục hoàn chỉnh, nâng cao về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và chính trị theo yêu cầu về tiêu chuẩn hóa công chức của ngành kiểm sát đồng thời tham dự các chương trình bồi dưỡng về nghiệp vụ công tác Đảng cho cấp ủy viên các cấp.

Đến năm 2011 đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt Viện KSND tỉnh là 28 đồng chí. Trong đó lãnh đạo Viện tỉnh 5 đồng chí; Trưởng, Phó phòng nghiệp vụ 23 đồng chí. Chất lượng đào tạo:

- Chuyên môn, nghiệp vụ: 28/28 đồng chí = 100% đạt chuẩn về Cử nhân luật, trong đó 01/28 đồng chí = 3,57 % trình độ cao học;

- Lý luận chính trị: Trình độ cử nhân 01/28 đồng chí =  3,57  %; cao cấp chính trị là 20 /28 đồng chí = 71,43 %, còn 01 đồng chí Phó Trưởng phòng, phó bí thư chi bộ đang tiếp tục theo học và hoàn thành chương trình cao cấp lý luận chính trị vào năm sau. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt kiêm nhiệm công tác Đảng 20 đồng chí, trong đó Ban chấp hành đảng bộ 9 đồng chí; bí thư, phó bí thư chi bộ 11 đồng chí.

d. Chính sách cán bộ: Giải quyết chế độ nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định 132-NĐ/CP của Chính phủ đối với 01 đồng chí chưa được chuẩn hóa theo quy định.

5. Việc chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên

Đảng ủy Viện KSND tỉnh thực hiện tốt công tac kiểm tra, giám sát để không ngừng phát huy vai trò lãnh đạo của các chi bộ và đội ngũ đảng viên; giáo dục cho đảng viên chấp hành tốt các quy định của Đảng về sử dụng thẻ đảng; kịp thời xây dựng Kế hoạch kiểm tra, giám sát toàn khóa và từng năm triển khai đến các chi bộ trực thuộc làm căn cứ xây dựng Kế hoạch kiểm tra, giám sát chi bộ và Đảng viên thuộc chi bộ, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát theo kế hoạch của Đảng ủy; phối hợp với cấp ủy địa phương để tuyên truyền vận động nhân dân thường xuyên kiểm tra, giám sát đảng viên trong việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước và thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú.

 Những năm qua 100 % chi bộ và đảng viên, công chức chấp hành nghiêm Kỷ luật Đảng, Kỷ luật lao động và Kỷ luật nghiệp vụ, không có trường hợp chi bộ và đảng viên, công chức vi phạm phải xử lý kỷ luật.

ĐÁNH GIÁ CHUNG

Ưu điểm:

 Qúa trình thực hiện Nghị quyết số 22 - NQ/TW, Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương (khóa X) của Đảng, Đảng bộ Viện KSND Đắk Lắk và các chi bộ trực thuộc có nhận thức sâu sắc về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc quán triệt Nghị quyết của Đảng, đồng thời nhận thức rõ trách nhiệm của tổ chức cơ sở Đảng trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết.

Đảng ủy và các chi bộ làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng nên đội ngũ đảng viên, công chức trong Đảng bộ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật, phát huy tốt năng lực công tác. Thường xuyên duy trì chế độ sinh hoạt Đảng theo quy định, phát huy tốt tinh thần dân chủ trong Đảng, giữ vững nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, khắc phục được tình trạng sinh hoạt đơn điệu, hình thức để đảm bảo tính lãnh đạo toàn diện, tính chiến đấu và tính giáo dục của tổ chức Đảng do đó chất lượng sinh hoạt đảng từng bước được đổi mới và nâng cao. Thường xuyên quan tâm công tác xây dựng Đảng bộ, xây dựng cơ quan và các tổ chức đoàn thể trong sạch, vững mạnh mọi mặt, chăm lo đến công tác phát triển đảng viên. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát qua đó giúp cho các chi bộ và đảng viên kịp thời khắc phục hạn chế phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng phù hợp, đảm bảo đủ sức lãnh đạo cơ quan, đơn vị thực hiện tốt Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và nhiệm vụ chính trị của ngành. Chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dững lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, chất lượng đội ngũ đảng viên, công chức từng bước được nâng cao. Thực hiện tốt công tác luân chuyển, điều động, quy hoạch, bổ nhiệm mới và bổ nhiệm lại các chức danh cán bộ, công chức theo quy định Đảng, Nhà nước và Viện KSND tối cao.

2. Tồn tại:

Việc tuyên truyền chính trị, giáo dục tư tưởng, và quản lý đảng viên được quan tâm, tuy nhiên chưa thường xuyên và sâu xát. Số ít chi bộ duy trì chế độ sinh hoạt và thực hiện báo cáo còn chậm theo quy định. Chất lượng, nội dung sinh hoạt đảng tuy đã cải tiến, đổi mới, nhưng còn mang tính hình thức. Việc phổ biến, quán triệt Nghị quyết, Chỉ thị của đảng chưa kịp thời, nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị của đảng chưa đầy đủ và sâu sắc, do đó việc tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ. Phân tích, đánh giá chất lượng tổ chức đảng và đảng viên hàng năm còn mang tính bình quân, dàn trải do đó chưa khuyến khích, động viên kịp thời những chi bộ, đảng viên để phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức Đảng và đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng.

3. Biện pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế:

- Tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục chính trị, tư tưởng để Đảng viên, công chức luôn phát huy tốt bản lĩnh chính trị, tích cực rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, giữ nghiêm kỷ luật Đảng, Kỷ luật lao động, nghiệp vụ, chấp hành tốt Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước;

- Đổi mới, nâng cao chất lượng, nội dung sinh hoạt Đảng, phát huy tốt vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng, đảm bảo tính lãnh đạo, tính chiến đấu và tính giáo dục của Đảng. Phát huy tinh thần dân chủ để xây dựng Nghị quyết lãnh đạo phù hợp, sát với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị;

- Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức và nguyên tắc tự phê bình và phê bình  trong Đảng;

- Xây dựng đội ngũ cấp ủy viên đủ số lượng, đảm bảo chất lượng đủ sức lãnh đạo Đảng bộ, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Cấp ủy viên thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công theo Quy chế làm việc của Ban chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2011 - 2015;

- Thực hiện tốt Chỉ thị 03 - CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh “Học tập và làm theo  tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”;

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời uốn nắn đối với chi bộ và đảng viên còn hạn chế trong việc thực hiện nhiệm vụ. Xử lý nghiêm đối với chi bộ và đảng viên vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Đảng; thực hiện tốt công tác quản lý Đảng viên, quan tâm đến công tác phát triển Đảng viên;

- Thực hiện tốt công tác phân tích, đánh giá chất lượng tổ chức Đảng và đảng viên hàng năm theo quy định;

- Xây dựng sự đoàn kết, thống nhất cao trong tập thể lãnh đạo, đội ngũ đảng viên, công chức để xây dựng Đảng bộ, cơ quan và các tổ chức đoàn thể trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Trên đây là báo cáo tự kiểm tra của Đảng bộ Viện KSND tỉnh về việc lãnh đạo, tổ chức thực hiện Nghị quyết 22 - NQ/TW, Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương (khóa X) của Đảng ./.
 

Các bài khác...

 
 
 
 
 
 
Phim tư liệu
Tháng chín 2014
M T W T F S S
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 1 2 3 4 5
Văn bản chỉ đạo điều hành
Tố giác tội phạm
Banner đo đường truyền Internet
---- Thống Kê Lượt Truy Cập ----
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay3026
mod_vvisit_counterHôm qua6837
mod_vvisit_counterTháng này163007
mod_vvisit_counterTổng cộng5292775
Chúng ta có 6 khách trực tuyến
 
Bản quyền thuộc: VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK.
Giấy phép số 79/GP-TTĐT do Cục QL Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử cấp ngày 11/06/2012
Chịu trách nhiệm chính: Ông Trần Đình Sơn – Viện Trưởng - Trưởng Ban biên tập
Địa chỉ: 11 Nguyễn Tất Thành - TP. Buôn Ma Thuột – Đắk Lắk
Điện thoại: 0500.3537979 - (Số máy lẻ 212) - Fax: 0500.3952051
Email: banbientap@vksnd.daklak.gov.vn - banbientap@vksdaklak.gov.vn
Liên hệ | Trợ giúp | Sơ đồ web | Hỏi đáp
Thiết kế và xây dựng: www.googlehost.vn