04:54 ICT Chủ nhật, 27/11/2022

Trang chủ » Tin tức » Hoạt động Kiểm sát

Quảng cáo giữa trang

Phòng 9 thông báo rút kinh nghiệm thông qua vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” bị xử hủy án!

Thứ tư - 04/05/2022 15:23
Qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm đối với vụ án:“Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư dịch vụ Duy Bình (Công ty Duy Bình) với Bị đơn: ông Nguyễn Văn Nguyên, bà Phùng Thị Mến; được xét xử tại Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2021/DSST ngày 26/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar có vi phạm, cần thông báo rút kinh nghiệm, cụ thể như sau:


1. Nội dung vụ án:
1.1. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào năm 2017, vợ chồng ông Trần Công Chung, bà Nguyễn Thị Tuyết Mai nhận chuyển nhượng của ông Dương Văn Bình, bà Lê Thị Hoài Tâm diện tích đất tại thôn 4, xã Ea Ô, huyện Ea Kar, bao gồm:
- 01 thửa đất số 423, tờ bản đồ số 06, diện tích 1730m2, đất đã được UBND huyện Ea Kar cấp Giấy CNQSDĐ số AO 026914.
- Một phần diện tích đất chưa đăng ký biến động xung quanh do có con suối tự nhiên ở phía giáp đường đi. Diện tích cụ thể chúng tôi cũng không nắm được, vì ông Bình, bà Tâm đã lấp con suối này và phần diện tích đất này chưa được cấp Giấy CNQSDĐ. Khi sang nhượng, các bên không đo đạc giao nhận trên thực địa. Sau khi được công nhận đến ngày 08/6/2018 ông Chung, bà Mai chuyển quyền sử dụng đất này vào tài sản của Công ty Duy Bình do bà Mai làm Giám đốc. Khoảng giữa năm 2018, Công ty Duy Bình có nhu cầu xây dựng cây xăng nên mời địa chính xã Ea Ô đến đo đạc chỉ mốc để xây dựng; khi đo đạc có gia đình bị đơn nhưng không lập văn bản. Đến cuối năm 2018, khi công ty xây dựng trên diện tích đất này thì ông Nguyễn Văn Nguyên và bà Phùng Thị Phương có hành vi cản trở, tự ý lấn chiếm đất của Công ty Duy Bình diện tích đất có đặc điểm như sau:  Phía Đông giáp đất Nông trường 716 cạnh dài 10m;  Phía Tây giáp đường đi liên xã cạnh dài 10m;  Phía Nam giáp đất của Công ty Duy Bình cạnh dài 70m; Phía Bắc giáp đất ông Nguyên, bà Phương cạnh dài 70m; tổng diện tích 700m². Trên diện tích này ông Nguyên, bà Phương đào một con mương chiều dài 70m; ngang 1m; sâu 70cm dọc theo phía giáp đất còn lại của Công ty Duy Bình để làm ranh giới. Sau khi có kết quả đo đạc, chúng tôi xác định diện tích đất tranh chấp như sau:
- Diện tích đất tranh chấp 01: đất chưa được cấp Giấy CNQSDĐ: phía Tây cạnh dài 10,1m giáp đường nhựa; phía Đông giáp đất tranh chấp 02, cạnh dài 10m; phía Bắc giáp đất của Công ty Duy Bình, cạnh dài 23,3m; phía Nam, giáp đất ông Nguyên, bà Phương, cạnh dài 21,4m; tổng diện tích 222,3m².
- Diện tích đất tranh chấp 02: đất đã được cấp Giấy CNQSDĐ cho Công ty Duy Bình: Phía Tây giáp đất tranh chấp 01 cạnh dài 10,1m; phía Đông, giáp đất tranh chấp 03, cạnh dài 10m; phía Bắc, giáp đất của Công ty Duy Bình, cạnh dài 25,4m; Phía Nam, giáp đất ông Nguyên bà Phương, cạnh dài 26,5m; tổng diện tích 259,6m2.
- Diện tích đất tranh chấp 03: đất chưa được cấp Giấy CNQSDĐ: phía Tây, giáp đất tranh chấp 02 cạnh dài 10m; phía Đông, giáp đất nông trường 716 cạnh dài 10m; phía Bắc, giáp đất của Công ty Duy Bình, cạnh dài 13,2m; phía Nam, giáp đất của ông Nguyên, bà Phương là 12,9m; tổng diện tích 130,2 m2.
Do đó, tại đơn khởi kiện ngày 24/01/2019 nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 700m2 đất lấn chiếm nhưng căn cứ kết quả đo đạc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, đề nghị bị đơn phải trả diện tích đất lấn chiếm là 613,1m2; đồng thời rút yêu cầu khởi kiện đối với nội dung buộc san lấp, khắc phục lại hiện trạng ban đầu đối với con mương có diện tích 70m2, sâu 70cm.
1.2. Bị đơn bà Phùng Thị Mến trình bày: Vào tháng 12/2008 âm lịch, vợ chồng tôi có mua 01 diện tích đất 598m2, thuộc thửa đất số 504, tờ bản đồ số 06 của ông Bình, bà Tâm. Khi sang nhượng, các bên chỉ đất cho nhau, có ông Phùng Văn Hiếu là cán bộ địa chính đo đạc, lấy từ mép nhà ông Tỉnh kéo về phía Tây 20m, theo chiều mặt đường. Sau khi đo đạc, ông Bình và ông Hiếu địa chính làm bìa đỏ cho gia đình tôi, đến ngày 24/3/2009, vợ chồng tôi được UBND huyện Ea Kar cấp Giấy CNQSDĐ số AO 001919. Gia đình tôi sử dụng ổn định đến nay, trên đất có 01 vườn điều, (vườn điều từ chỗ con mương mà vợ chồng tôi đào khi có tranh chấp) kéo về phần đất của gia đình tôi mua, và vườn điều bắt đầu từ phần đất tranh chấp 02 và 03; còn đoạn tranh chấp 01 ngày trước là con suối, nên không có điều). Đến năm 2018, Công ty Duy Bình san lấp có múc một số cây điều, tôi có ý kiến với gia đình anh Chung chị Mai nhưng không được, sau đó hai bên có tranh chấp, vợ chồng tôi có đào 01 con mương như nguyên đơn trình bày, nhưng đào trên phần đất của gia đình tôi. Đối với số cây điều đã bị múc tôi không yêu cầu bồi thường. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tôi không đồng ý. Gia đình tôi sử dụng 20m ngang tính từ mép nhà ông Tỉnh đến đất giáp ranh đất của Công ty Duy Bình, nếu dư tôi trả lại. Còn trên Giấy CNQSDĐ, diện tích của tôi cấp như thế nào tôi không rõ, vì tôi sử dụng đúng như trên sự chỉ đất của ông Bình chủ đất và cán bộ địa chính ông Hiếu.
         3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Công Chung trình bày: Bà Phương cho rằng vườn điều từ phần con mương mà bà Phương, ông Nguyên đào là không chính xác, điều chỉ nằm giáp ranh bên ngoài phần diện tích tranh chấp mà thôi. Việc bà Phương trình bày là không đúng thực tế, tôi không đồng ý.
         2. Qúa trình giải quyết vụ án của Tòa án
- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2021/DSST ngày 26/9/2021 Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
“Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Duy Bình.
 Buộc bà Phùng Thị Mến, ông Nguyễn Văn Nguyên có trách nhiệm trả lại cho Công ty Duy Bình tổng diện tích 183,1m2 (nêu kèm tứ cận và sơ đồ đo vẽ kèm theo).
Công ty Duy Bình, bà Phùng Thị Mến, ông Nguyễn Văn Nguyên có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo đúng với hiện trạng đang quản lý, sử dụng.
Đối với phần tổng diện tích 352,5m2 thuộc đất suối, đất ủy ban quản lý, sử dụng không được cấp Giấy CNQSDĐ, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nên không có cơ sở xem xét, giải quyết.
Ngoài ra bản án còn viện dẫn căn cứ pháp luật; tuyên về chi phí tố tụng, về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
 Ngày 06/10/2021, ông Nguyễn Văn Nguyên và bà Phùng Thị Mến có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
         Ngày 08/10/2021, Viện trưởng VKSND huyện Ea Kar ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐKNPT-VKS-DS theo hướng hủy án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.  
 Ngày 12/10/2021, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án xem xét chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn chịu toàn bộ chi phí đo đạc.
- Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 69/2022/DS-PT ngày 12/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, quyết định:
“Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-DS ngày 08/10/2021 của Viện trưởng VKSND huyện Ea Kar, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2021/DS-ST ngày 26/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung”.
Ngoài ra bản án còn viện dẫn căn cứ pháp luật và tuyên về án phí.
        
 
3. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:
   - Về tố tụng: Tòa án không đưa UBND xã Ea Ô và UBND huyện Ea Kar vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; không đưa ông Phùng Văn Hiếu vào tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng là thiếu người tham gia tố tụng, bởi lẽ: ông Bình bà Mến đều cho rằng: Tại thời điểm các bên giao đất trên thực địa có nhờ ông Hiếu (nguyên là cán bộ địa chính; hiện nay là Phó chủ tịch UBND xã Ea Ô) tiến hành đo đạc đất và làm thủ tục sang tên, cấp Giấy CNQSDĐ cho nguyên đơn. Năm 2009, UBND huyện Ea Kar căn cứ vào biên bản kiểm tra xác minh ranh giới, hiện trạng và nguồn gốc sử dụng đất của UBND xã Ea Ô và kết quả thẩm tra của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Ea Kar để cấp Giấy CNQSDĐ đối với thửa đất số 504 cho bị đơn. Tuy nhiên, tại Biên bản hòa giải ngày 14/12/2018 của UBND xã Ea, trang 3 phần ý kiến của chuyên môn thể hiện: “Thực tế kiểm tra đất của gia đình bà Phương đang sử dụng không phù hợp với hình thể trên Giấy CNQSDĐ đã được cấp cho gia đình. Tại thời điểm tách quyền sử dụng đất đã biết vấn đề này nhưng để thuận tiện cho việc thực hiện thủ tục hành chính nên vẫn thực hiện tách quyền sử dụng đất dẫn đến tình trạng sai lệch”.
- Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2021/QĐXXST-DS ngày 14/7/2021 thì thành phần Hội đồng xét xử không có tên Hội thẩm nhân dân (HTND) là bà Nguyễn Thị Tuyết Tại Bản án và Biên bản nghị án thể hiện HTND là ông Lê Khắc Dũng và bà Tuyết. Tuy nhiên tại Biên bản phiên tòa lại thể hiện các HTND là ông Y Ník Êban và bà Tuyết. Tại trang 02 của Biên bản phiên tòa còn thể hiện việc chủ tọa giải thích về việc thay đổi HTND và cho rằng vì lý do khách quan nên ông Dũng không thể tham gia phiên tòa được và có bà Tuyết tham gia phiên tòa nhưng thực tế ông Dũng vẫn tham gia phiên tòa; như vậy, án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
- Về thu thập chứng cứ: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa sơ thẩm không tiến hành lấy lời khai của ông Phùng Văn Hiếu, UBND xã Ea Ô và UBND huyện Ea Kar để làm rõ tại thời điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông Bình, bà Tâm và ông Nguyên, bà Mến thỏa thuận lấy điểm mốc ở vị trí nào để đo 20m mặt đường nhựa, kéo dài từ phần tiếp giáp ranh đất của nhà ông Đặng Phước Tỉnh về phía Bắc thì đến vị trí nào của thửa đất số 423 (đất của Công ty Duy Bình); Tòa án không tiến hành thu thập tài liệu và đo đạc để xác định cụ thể vị trí, tứ cận, độ dài các cạnh của thửa đất số 504 và thửa đất số 423 đã được cấp Giấy CNQSDĐ có đúng với sơ đồ giải thửa ban đầu hay không; không xác minh làm rõ phần diện tích 259,6m² mà các bên đang tranh chấp đã được cấp Giấy CNQSDĐ cho ai, thuộc thửa đất nào là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ. Cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ mà lại tuyên buộc ông Nguyên bà Mến có trách nhiệm trả lại cho Công ty Duy Bình tổng diện tích đất 183,1m2 đất lấn chiếm, buộc các đương sự có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo đúng hiện trạng đang quản lý sử dụng là thiếu cơ sở, không đảm bảo về chứng cứ.
-  Về giải quyết yêu cầu khởi kiện:
+ Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại 613,1m2 đất. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn 183,1m2 đất. Đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nhưng án sơ thẩm không tuyên bác là thiếu sót.
+ Tại Biên bản định giá đối với diện tích đất tranh chấp ghi nhận trên đất có 02 cây điều, 01 cây bàng, 05 cây bạch đàn tuy nhiên bản án sơ thẩm không tuyên giao các tài sản trên cho ai là giải quyết vụ án chưa triệt để.
          Như vậy, án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, giải quyết vụ án chưa triệt để, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm đã Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2021/DS-ST ngày 26/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
            Trên đây là vi phạm của Tòa án nhân dân huyện Ea Kar trong việc giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất. Viện trưởng VKSND huyện Ea Kar đã kịp thời phát hiện các vi phạm trong vụ án và ban hành kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp nhận kháng nghị.  Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, Phòng 9 thông báo để các VKSND huyện, thị xã, thành phố nghiên cứu, tham khảo, rút kinh nghiệm khi kiểm sát giải quyết các vụ án tương tự.
 
Diệu Linh

Tác giả bài viết: Diệu Linh

Nguồn tin: Phòng 9 VKSND tỉnh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Liên kết Website

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 121

Máy chủ tìm kiếm : 51

Khách viếng thăm : 70


Hôm nayHôm nay : 5669

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 862115

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 52399480