Thứ tư, ngày 30 tháng 09 năm 2026
Cập nhật lúc: 29/09/2026

Tái phạm hay tái phạm nguy hiểm

Theo quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự: “1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý”.

Đọc điều luật, nội dung của tái phạm và tái phạm nguy hiểm tưởng như dễ hiểu và đơn giản, nhưng trong thực tế có nhiều trường hợp phức tạp, cần phải phân tích, đánh giá kỹ mới xác định được một cách chính xác đâu là tái phạm, đâu là tái phạm nguy hiểm. Điển hình được thể hiện qua vụ án sau:

Năm 2024, A phạm tội trộm cắp tài sản, bị Tòa án tuyên phạt 06 tháng tù giam, khi chưa được xóa án tích thì năm 2025 A lại phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại huyện N và bị tuyên phạt 9 tháng tù, khi xét xử Tòa án huyện N không tính A phạm tội với tình tiết tăng nặng là tái phạm (do lỗi của Tòa án) và bản án này đã có hiệu lực pháp luật. Năăm 2026, khi chưa được xóa án tích thì A lại tiếp tục trộm cắp xe mô tô trị giá 09 triệu đồng ở khu vực P. Vậy lần phạm tội tại khu vực P, khi xét xử phải xác định A phạm tội với tình tiết tăng nặng là tái phạm hay là tái phạm nguy hiểm? Nếu xác định là tái phạm thì A chỉ bị xét xử theo khoản 1 Điều 173 BLHS với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; còn nếu xác định là tái phạm nguy hiểm thì A sẽ bị xét xử theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Vấn đề này có hai quan điểm khác nhau:

Quan điểm nhất: Phải căn cứ vào bản án năm 2025, theo đó muốn nói năm 2026 A thuộc trường hợp “đã tái phạm” thì bản án năm 2025 phải xác định A “tái phạm”. Do bản án năm 2025 không áp dụng tình tiết tái phạm nên không thể lấy một tình tiết mà bản án đã bỏ sót để suy ra A “đã tái phạm”; bắt buộc bản án năm 2025 phải xác định A là tái phạm thì năm 2026 mới xác định A  “đã tái phạm”. Trong trường hợp này, A chỉ có thể bị xét xử theo khoản 1 Điều 173 BLHS với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Theo quan điểm này, với vụ án tương tự, TAND tỉnh Đ cũng đã xét xử bị cáo M (có hành vi phạm tội tương tự bị cáo A nêu trên) theo khoản 1 Điều 173 BLHS với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS (Bản án số 183/2026/HSPT ngày 04/8/2026).

Quan điểm thứ hai: Với  nội dung vụ án nêu trên, thì khi thực hiện hành vi phạm tội năm 2025, A đã có tiền án, chưa được xóa án tích và lại phạm tội cố ý. Vì vậy, hành vi của A thỏa mãn điều kiện của “tái phạm” lại tiếp tục phạm tội do cố ý, nên năm 2026 hành vi phạm tội trộm cắp của A phải xác định là “tái phạm nguy hiểm” và A phải bị xét xử theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Quan điểm này cho rằng, cần phải căn cứ trực tiếp vào Điều 53 và bản chất của vụ việc, vì trường hợp “Tái phạm” là một chế định pháp lý được xác định từ các điều kiện thực tế, chứ không nhất thiết trong bản án trước đó phải xác định  là A đã tái phạm. Nếu A đã bị kết án năm 2024, chưa xóa án tích, rồi thực hiện tội cố ý năm 2025 thì về bản chất A đã tái phạm. Việc Tòa án huyện N năm 2025 bỏ sót tình tiết này là sai sót của Tòa án và không làm thay đổi bản chất vụ việc và sự kiện pháp lý là A đáp ứng điều kiện tái phạm. Nghiên cứu kỹ về tái phạm và tái phạm nguy hiểm, Điều 53 BLHS và các văn bản hướng dẫn khác không hề quy định việc “tái phạm” bắt buộc phải được xác định bằng bản án trước đó.

Theo quan điểm thứ hai, tại thành phố Hồ Chí Minh có một vụ án tương tự; về tình huống pháp lý: Bị cáo H từng bị kết án, lần phạm tội sau đó, về thực chất đủ điều kiện là tái phạm, nhưng bản án trước không ghi nhận/không áp dụng tình tiết tái phạm; sau đó H tiếp tục phạm tội cố ý khi chưa được xóa án tích. Tòa sơ thẩm xác định lần sau là tái phạm nguy hiểm. Tòa phúc thẩm lại loại bỏ “tái phạm nguy hiểm”, vì cho rằng bản án trước không xác định H tái phạ;m; bản án phúc thẩm bị kháng nghị giám đốc thẩm và TAND cấp cao tại TP.HCM ban hành Quyết định giám đốc thẩm số 69/2024/HS-GĐT. hủy bản án phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đặc biệt, phần nhận định được TAND cấp cao nêu rõ: “Điều 53 BLHS chỉ đặt ra các điều kiện để xác định tái phạm là: Đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội…, không yêu cầu việc tái phạm phải được bản án có hiệu lực của Tòa án ghi nhận thì mới được xác định là tái phạm”. 

Theo chúng tôi, quan điểm thứ 2 là đúng, sát với điều 53 BLHS và phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, do còn có nhận thức, áp dụng pháp luật khác nhau nên mong muốn được đồng nghiệp bình luận, trao đổi để làm sáng tỏ vấn đề, góp phần đảm bảo việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất.

HOÀNG NGỌC LONG
In Gửi Email
ipv6 ready
Chung nhan Tin Nhiem Mang