Thứ sáu, ngày 13 tháng 02 năm 2026
Cập nhật lúc: 11/02/2026

TAND tỉnh Đắk Lắk: Chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Theo hồ sơ, Công ty AT và Công ty PH ký kết các hợp đồng giao khoán nhân công số 01-01/2019/HDGK-TPH ngày 20/6/2019 và phụ lục hợp đồng số 01-06/2019/HĐGK/TPH-AT để thi công công trình Dự án Trường mầm non cho Công ty PH, tổng giá trị hợp đồng và phụ lục hợp đồng là 4.490.075.850đ; hợp đồng kinh tế số 02/2019/HDKT-TPH-AT ngày 20/6/2019 về việc giao khoán khối lượng thi công công trình các hạng mục bổ sung thuộc Bệnh viện K, giá trị hợp đồng là 469.625.000đ. 

Công ty AT cho rằng, theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 05/3/2023 thì Công ty PH đang còn nợ công ty AT số tiền của cả hai công trình là 469.725.850đ nên Công ty AT khởi kiện yêu cầu Công ty PH phải trả số tiền còn nợ 469.725.850đ và 252.392.000đ tiền lãi theo mức lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 17/9/2021 đến ngày 11/6/2025. 

Công ty PH thì cho rằng trước thời điểm đối chiếu đã chuyển tiền cho 02 công trình tổng cộng 4.530.284.150đ, nhiều hơn giá trị phải thanh toán nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện. Phụ lục hợp đồng số 01-06/2019/HĐGK/TPH- AT hai bên ký kết nhằm hợp thức hóa số tiền xuất hóa đơn mà bên công ty AT phải chịu thuế giá trị gia tăng khi xuất hóa đơn bán hàng nên Hợp đồng không ghi ngày tháng cụ thể. Thực tế, công ty AT không thi công cổng tường rào, nhà vệ sinh sân vườn, hạ tầng cấp thoát nước theo bản vẽ đối với công trình trường mầm non Thắng Lợi. Các hạng mục này Công ty PH thuê người khác thi công chứ không phải Công ty AT. Sau khi thi công xong công trình trường Mầm non, giữa công ty AT và Công ty PH chưa thống nhất về khối lượng công việc cũng như số tiền tương đương công việc thực hiện, chưa có đối chiếu công nợ nên việc Công ty AT yêu cầu Công ty PH trả số 395.790.850đ và tiền lãi là không có cơ sở. Đối với công trình Bệnh viện ĐK thì Công ty PH đã thanh toán đầy đủ cho công ty AT nhưng công ty AT tự thống kê số liệu xác định Công ty PH còn nợ số tiền 109.925.000đ là không đúng, nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện.

Bản án kinh doanh thương mại của Tòa án sơ thẩm đã tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty AT. Buộc Công ty PH có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty AT số tiền 722.140.850 đồng. 

Sau khi xử sơ thẩm, VKSND tỉnh Đắk Lắk đã kháng nghị phúc thẩm bản án kinh doanh thương mại của Tòa án sơ thẩm.

Theo kháng nghị, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận việc ký kết các hợp đồng thi công hai công trình xây dựng tại Trường mầm non và Bệnh viện K theo các Hợp đồng giao khoán nhân công số 01-01/2019/HĐGK-TPH (trị giá: 3.295.586.000 đồng), phụ lục hợp đồng số 01-06/2019/HDGK/TPH- AT (trị giá: 1.194.489.000 đồng) và Hợp đồng kinh tế số 02/2019/HDKT/TPH-AT ngày 20/6/2019 (trị giá 469.625.000 đồng, được nghiệm thu là 509.925.000 đồng).

Quá trình thanh toán Hợp đồng 01-01/2019/HĐGK/TPH-AT và Phụ lục kèm theo Công ty AT đã xuất 03 hóa đơn giá trị gia tăng chung cho cả hợp đồng và phụ lục kèm theo, không tách riêng hóa đơn thanh toán cho các hạng mục thi công tại Phụ lục đối với các hạng mục về cổng tường rào, nhà vệ sinh sản vườn, hạ tầng cấp thoát nước theo bản vẽ đối với công trình trường mầm non.

Bị đơn thừa nhận có nội dung ký kết tại Phụ lục hợp đồng số 01-06/2019/HDGK/TPH-AT, nhưng xác định mục đích ký kết để Công ty AT xuất hóa đơn giá trị gia tăng, còn người thi công các hạng mục này là ông H (nhà thầu tự do), trong quá trình tham gia tố tụng, ông H thừa nhận đã thi công hạng mục này và được Công ty PH thanh toán xong. 

Nguyên đơn chỉ cung cấp được hóa đơn giá trị gia tăng đã xuất nhưng không cung cấp được bản nghiệm thu công trình và các chứng cứ khác chứng minh việc đã thi công công trình theo Phụ lục hợp đồng số 01-06/2019/HDGK/TPH-AT làm căn cứ cho việc nghiệm thu để xuất hóa đơn. Việc xuất hóa đơn giá trị gia tăng không đồng nghĩa với việc đã thi công đầy đủ các hạng mục trong hợp đồng; Biên bản đối chiếu công nợ ghi ngày 05/03/2023 do nguyên đơn cung cấp, không xác nhận của bị đơn và không được bị đơn thừa nhận. Bản án sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu này để xác định Công ty AT đã thực hiện đầy đủ thỏa thuận theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng đã ký kết và buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không khách quan, vi phạm về đánh giá chứng cứ quy định tại Điều 108 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại mục 4.2 Điều 4 Hợp đồng giao khoán nhân công số 01-06/2019/HDGK/TPH- AT ngày 20/6/2019 đối với công trình Trường mầm non quy định về hồ sơ thanh toán và quyết toán công trình gồm: "Bảng thanh toán có xác nhận của Chỉ huy trưởng công trình; Biên bản nghiệm thu của A, B. Hóa đơn giá trị gia tăng hợp lệ: ".

Do nguyên đơn không chứng minh được việc đã thi công các hạng mục theo phụ lục hợp đồng số 01-06/2019/HDGK/TPH- AT, không cung cấp được hồ sơ hoàn công, biên bản nghiệm thu đối với các hạng mục theo Phụ lục hợp đồng nên không có căn cứ buộc Công ty PH phải thanh toán số tiền 1.194.489.000 đồng theo Phụ lục đã ký kết và hóa đơn đã xuất.

Như vậy, số tiền Công ty PH có nghĩa vụ thanh toán cho cả hai Hợp đồng đã ký kết với Công ty AT là 3.805.511.000 đồng. Các bên thừa nhận Công ty PH đã chuyển tiền thanh toán cho Công ty AT với tổng số tiền của cả hai hợp đồng là 4.530.284.150 đồng, nhiều hơn giá trị của hợp đồng đã thực hiện nên bản án sơ thẩm xác định Công ty PH còn nợ Công ty AT số tiền 469.715.850 đồng là không có căn cứ. Bản án sơ thẩm xác định không đúng nghĩa vụ thanh toán nên việc giải quyết tiền lãi trên nghĩa vụ phải thanh toán và án phí cũng không đúng.

Do bản sơ thẩm nhận định đánh giá tài liệu chứng cứ không khách quan, toàn diện dẫn đến giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 722.140.850 đồng (gồm nợ gốc và nợ lãi) là không có căn cứ, làm ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn.

Từ đó, VKSND tỉnh Đắk Lắk kháng nghị đề nghị TAND tỉnh này xét xử phức thẩm, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty AT

Tại phiên tòa phúc thẩm mới đây, Hội đồng xét xử TAND tỉnh Đắk Lắk đã chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Đắk Lắk. 

HỒNG HẢI
In Gửi Email
ipv6 ready
Chung nhan Tin Nhiem Mang