Một số điểm mới của Quy chế kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính
Quy chế kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính (ban hành kèm theo Quyết định số 11/QĐ-VKSTC ngày 30/6/2026 của Viện trưởng VKSND tối cao), có hiệu lực thi hành từ ngày ký ban hành (Quy chế 11/QĐ-VKSTC).
Theo đó, công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính là công tác thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính của Tòa án kịp thời, đúng pháp luật. Đối tượng của công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính là việc tuân theo pháp luật của Tòa án, người tiến hành tố tụng của Tòa án, người tham gia tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc đối thoại tại Tòa án và giải quyết vụ án hành chính.
Công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính bao gồm:
1. Kiểm sát việc đối thoại tại Tòa án theo quy định của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (sau đây gọi là Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án) và quy định khác của pháp luật có liên quan. Kiểm sát việc đối thoại tại Tòa án bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận được các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 9 Quy chế này đến khi quyết định tại điểm a khoản 1 Điều 9 hoặc quyết định giải quyết đề nghị, kiến nghị xem xét lại đối với quyết định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của Quy chế này có hiệu lực pháp luật.
2. Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính (sau đây gọi là Luật TTHC). Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận được thông báo trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính hoặc từ khi Tòa án thông báo thụ lý vụ án hành chính đến khi bản án, quyết định giải quyết vụ án hành chính của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà không có kháng nghị, không có yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại theo quy định của Luật TTHC.
Có thể nói, Quy chế 11/QĐ-VKSTC có những điểm mới đột phá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính. Ngay tại Chương II. Kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, nếu như Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 282/QĐ-VKSTC ngày 01/08/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao (Quy chế 282/QĐ-VKSTC) quy định Mục 1. Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện thì Quy chế 11/QĐ-VKSTC lại chú trọng kiểm sát chặt chẽ hoạt động đối thoại tại Tòa án, quy định Mục 1. Kiểm sát việc công nhận kết quả đối thoại thành tại Tòa án.
Tại Điều 16 Quy chế 282/QĐ-VKSTC quy định về kiểm sát quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ giải quyết vụ án “Khi nhận được quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật về nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thành phần tham gia đối thoại, nội dung và kết quả đối thoại theo quy định tại các điều 134, 135, 136, 137, 138, 139 và 140 của Luật TTHC. Khi phát hiện vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát có thẩm quyền để thực hiện quyền kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm.
Trường hợp có căn cứ cho rằng nội dung các bên đã thống nhất và cam kết là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì báo cáo bằng văn bản với lãnh đạo Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm ”.
Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 9 Quy chế 11/QĐ-VKSTC lại quy định cụ thể hơn: “1. Khi kiểm sát các quyết định trong việc đối thoại tại Tòa án, Viện kiểm sát kiểm sát các quyết định sau đây: a) Quyết định công nhận kết quả đối thoại thành tại Tòa án; b) Quyết định không công nhận kết quả đối thoại thành tại Tòa án.”. Tại khoản 2 Điều này quy định: Khi kiểm sát các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này, Viện kiểm sát kiểm sát các vấn đề sau đây: a) Vụ việc đã đối thoại tại Tòa án có thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án không; b) Thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định; c) Thời hạn ban hành quyết định; thời hạn gửi quyết định cho Viện kiểm sát; d) Hình thức, nội dung của quyết định; đ) Điều kiện công nhận kết quả đối thoại thành; e) Vấn đề liên quan khác.
Điều 18 Quy chế quy định: “1. Khi nhận được quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật về nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thành phần tham gia đối thoại, nội dung và kết quả đối thoại theo quy định tại các điều 134, 135, 136, 137, 138, 139 và 140 của Luật TTHC và lập phiếu kiểm sát.
2. Khi phát hiện vi phạm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm Kiểm sát viên, Kiểm tra viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát có thẩm quyền để thực hiện quyền kiến nghị yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm. Trường hợp có căn cứ cho rằng nội dung các bên đã thống nhất và cam kết là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì báo cáo bằng văn bản với lãnh đạo Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Trường hợp có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quy định tại Điều 281 Luật TTHC thì báo cáo bằng văn bản với lãnh đạo Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, kèm theo tài liệu làm căn cứ cho việc kháng nghị.”
Quy chế 11/QĐ-VKSTC đã tăng cường trách nhiệm chủ động của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên trong việc đánh giá chứng cứ, thu thập tài liệu. Tại các Điều 15, 16 Quy chế quy định: “Khi kiểm sát việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên kiểm sát về trình tự, thủ tục xác minh, thu thập, nguồn chứng cứ bảo đảm tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp, khách quan, đầy đủ, làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án đúng pháp luật. Kiểm sát viên kiểm sát việc Tòa án bảo đảm quyền cung cấp, tiếp cận tài liệu, chứng cứ của vụ án của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong vụ án theo quy định của pháp luật.
1. Trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ chưa bảo đảm cho việc giải quyết vụ án thì Kiểm sát viên, Kiểm tra viên báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát để kịp thời yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 84 Luật TTHC và hướng dẫn tại Điều 23 TTLT số 08/2026.
2. Trường hợp các bên đương sự đã thực hiện các biện pháp cần thiết nhưng không thu thập được tài liệu, chứng cứ và đề nghị Tòa án hỗ trợ mà Toà án không hỗ trợ và không có lý do chính đáng thì Kiểm sát viên, Kiểm tra viên báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu Tòa án hỗ trợ đương sự thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại Điều 15 Luật Tổ chức TAND năm 2024.”
Điều 22 Quy chế quy định: “…2. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải kiểm sát chặt chẽ việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án và của những người tham gia tố tụng; xem xét yêu cầu khởi kiện, các điều kiện khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án; kiểm tra, đánh giá khách quan, toàn diện tài liệu, chứng cứ; việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án theo quy định tại Điều 132 Luật TTHC.
3. Trường hợp phát hiện Tòa án chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ bảo đảm cho việc giải quyết vụ án đúng pháp luật thì Kiểm sát viên, Kiểm tra viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát yêu cầu Toà án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 84 Luật TTHC và hướng dẫn tại Điều 23 TTLT số 08/2026; yêu cầu Tòa án hỗ trợ đương sự thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Quy chế này. Trường hợp phát hiện có vi phạm trong việc thu thập chứng cứ thì Kiểm sát viên, Kiểm tra viên báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát thực hiện quyền kiến nghị.
4. Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên xây dựng báo cáo đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án, dự thảo đề cương hỏi, dự thảo văn bản phát biểu ý kiến tại phiên tòa.”…
Quy chế 11/QĐ-VKSTC còn quy định cụ thể: Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hành chính, VKSND có các nhiệm vụ và quyền hạn “… Tham gia phiên tòa, phiên họp trực tiếp hoặc trực tuyến; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, phiên họp, người tham gia tố tụng tại phiên tòa, phiên họp trực tiếp hoặc trực tuyến; phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa, phiên họp trực tiếp hoặc trực tuyến…; xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của VKSND trong kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính…”…